You are currently viewing Tạng Can

Tạng Can

Về giải phẩu học tạng can của y học cổ truyền được coi như gan, song về chức năng lại được thể hiện như sau:

Can tàng huyết: Can là kho dự trữ huyết và điều tiết huyết cho cơ thể. Khi cơ thể ở trạng thái hoạt động phần lớn huyết được chuyển từ can tới tận tế bào, cung cấp dinh dượng cho hoạt động sống của tế bào. Khi nghỉ ngơi, khi nằm, khi ngủ, đại bộ phận huyết được trở về can. Nếu huyết không thu về can được sẽ xuất hiện triệu chứng bồn chồn, mất  ngủ. Chức năng can tàng huyết tốt, cơ thể khỏe mạnh hồng hào do huyết sung túc, chức năng can tàng huyết kém cơ thể xanh xao, mệt mỏi, miệng trắng giã. Các loại thuốc liên quan đến chức năng này là thuốc bổ huyết, bổ âm, hoạt huyết hành khí.

Can chủ cân: Cân tức là gân, bao cơ, khớp, dây chằng… Can chủ cân kém, xuất hiện gân co duỗi khó khăn, các hệ thống dây chằng sa giãn, đi lại khó khăn, teo nheo cơ. Trẻ em chậm biết đi hoặc không đi được. Các loại thuốc có liên quan đến chức năng can chủ cân là thuốc bổ can thận, bổ huyết.

Can chủ sơ tiết: Trước hết là nói đến chức năng sơ tiết mật, men của gan. Chức năng can chủ sơ tiết tốt sẽ giúp cho việc tiêu hóa của tỳ vị được tốt. Chức năng này kém sẽ dẫn đến bụng chướng đầy, ăn uống không tiêu, các chứng hoàng đản(vàng da), hoặc sườn ngực đầy tức, phụ nữ bế kinh hoặc rối loạn kinh nguyệt. Thuốc có liên quan đến chức năng này là thuốc sơ cản giải uất, hành khí, hành huyết lợi mật.

Can chủ nộ: Can chủ về tính giận về tính nóng nảy cáu gắt. Ngược lại hay cáu giận hại can. Chức năng can chủ nộ liên quan mật thiết với chức năng chủ sơ tiết và can tàng hồn. Can không chủ được nộ sẽ dẫn đến việc sơ tiết của can kém đi, đồng thời ảnh hưởng nhiều đến những hoạt động tinh thần mà xuất hiện triệu chứng ngủ không yên giấc, nặng thì sẽ dẫn đến một số bệnh tinh thần. Các loại thuốc liên quan là thuốc an thần gây ngủ, bình can tiềm dương, trọng trấn an thần, sơ can giải uất…

Can khai khiếu ra mắt: Khí của can được biểu hiện ra ở mắt. Khí của can tốt thì thị lực tốt, ngược lại mắt mờ, thị lực suy giảm. Nhìn vào mắt biết được trạng thái của can. Nếu mắt khô sáp, thâm quầng là can huyết bất túc, đỏ do sung huyết là can hỏa thịnh, mắt vàng(âm hoàng và dương hoàng) là can nhiệt, mắt trắng dã là can huyết hư. Chức năng này liên quan mật thiết đến chức năng can tàng huyết, tàng hồn và can chủ sơ tiết. Thuốc có liên quan:thuốc bổ huyết nếu can bất túc, thuốc sơ can giải uất, lợi mật, thuốc thanh nhiệt táo thấp(táo thấp, lương huyết… ) thuốc bổ âm, bổ thận.

Một số bệnh về can:

– Can khí uất kết: Thể hiện hai bên sườn đau tức, đau lồng ngực, đau bụng, phụ nữ kinh nguyệt không đều, viêm gan mạn tính, nên dùng thuốc sơ can giải uất, hành khí hành huyết.

– Can đởm thấp nhiệt: Da vàng tiểu tiện vàng đỏ, sườn đau căng, phụ nữ khí hư bạch đới. Nên dùng thuốc thanh nhiệt táo thấp, giải độc, lợi thấp

– Can phong nội động: Ngã đột ngột, thậm chí hôn mê bất tỉnh, bán thân bất toại, miệng mắt méo xệch… Các chứng động kinh, bệnh lý(histeria) cũng thuộc loại chứng bệnh này. Nên dùng thuốc bình can tắt phong hoặc trọng trấn an thần, sơ can giải uất…

– Can hỏa thượng viêm: Đầu đau căng, mắt đỏ, miệng đắng, lưỡi hồng, hay chảy máu cam(nục huyết). Nên dùng thuốc thanh nhiệt hay giải biểu nhiệt chỉ huyết.